30 năm Bức tường Berlin sụp đổ: Cựu tổng bí thư Đông Đức oán Gorbachev

0
217

Đó là một trong những tour có hướng dẫn viên đi kèm kỳ quặc nhất tôi từng tham gia. Tôi lái xe đi quanh Berlin cùng với Egon Krenz, nhà lãnh đạo cộng sản cuối cùng của Đông Đức.

Chuyên sâu về xã hội, đời sống tâm linh,...

“Con phố này từng có tên là Stalinallee!” ông nói khi chúng tôi đi vào đường Karl-Marx-Allee. “Họ đặt lại tên sau khi Stalin mất.”

“Còn ở phía kia là Quảng trường Lenin. Trước kia có một bức tượng Lenin rất to. Nhưng họ đã hạ xuống rồi.”

Ông nhìn ra ngoài cửa sổ và mỉm cười.

“Cộng hòa Dân chủ Đức (GDR) xây dựng toàn bộ thứ này.”

Ông Krenz, 82 tuổi, nay sống trong một đất nước khá hơn đất nước mà ông từng cai quản. Cộng hòa Dân chủ Đức – Đông Đức – không còn tồn tại nữa. Ba mươi năm sau những sự kiện đầy biến động trong năm 1989 và sự sụp đổ của Bức tường Berlin, ông Krenz đồng ý gặp tôi.

Người dân Đông Berlin trèo qua Bức tường Berlin vào hôm 9/11/1989, giật đổ Bức màn Sắt tại Đức

Vì sao Krenz yêu Liên Xô?

Tôi thì tiếng Đức khá xoàng, còn ông Krenz lại không biết tiếng Anh, cho nên chúng tôi nói chuyện với nhau bằng tiếng Nga. Đó là thứ ngôn ngữ mà ông ấy rất giỏi. Ông phải giỏi, bởi Đông Đức trước đây là vệ tinh của Moscow.

“Tôi yêu nước Nga, và trước đây tôi yêu Liên Xô,” ông nói với tôi. “Tôi vẫn còn có rất nhiều người quen ở đó. Đông Đức là đứa con của Liên Xô. Liên Xô đứng bên nôi khi Đông Đức chào đời. Và, thật đáng buồn, họ cũng đứng bên giường tử khi Đông Đức chết.”

Với nước Nga cộng sản, Đông Đức giống như một tiền đồn then chốt ở châu Âu. Liên Xô có 800 trại lính ở Đông Đức với nửa triệu quân.

“Dù có phải là lực lượng chiếm đóng hay không thì chúng tôi vẫn coi binh lính Liên Xô là những người bạn,” ông Krenz nói.

Nhưng là một phần của đế chế Xô Viết thì được lợi gì?

“Cụm từ ‘một phần của đế chế Xô Viết’… đó chính là thuật ngữ điển hình của phương Tây,” ông đáp. “Trong Hiệp ước Warsaw, chúng tôi coi mình là đối tác của Moscow. Mặc dù vậy, tất nhiên là với nước chúng tôi thì Liên Xô luôn có tiếng nói quyết định.”

Cuộc sống trước đây ở Đông Đức: cho đến 10/1989, bức tượng Lenin này vẫn đứng sừng sững ở Quảng trường Lenin ở Đông Berlin

Krenz đã lên đỉnh cao quyền lực như thế nào?

Sinh năm 1937, là con trai một thợ may, Egon Krenz nhanh chóng leo lên trong bậc thang quyền lực của cộng sản.

“Tôi là Thiếu niên Tiền phong. Rồi là đoàn viên Thanh niên Đức Tự do. Rồi tôi vào Đảng Xã hội Thống nhất. Rồi tôi thành tổng bí thư đảng. Tôi đã trải qua tất cả!”

Trong nhiều năm, ông được coi là “hoàng tử bé” – người sẽ lên kế nhiệm nhà lãnh đạo kỳ cựu của Đông Đức, Erich Honecker.

Nhưng tới lúc ông thay thế Honecker vào tháng 10/1989, đảng cầm quyền đã không còn nắm chắc quyền lực trong tay.

Từ Ba Lan cho tới Bulgaria, quyền lực nhân dân dâng tràn khắp khối Đông Âu. Đông Đức không phải là ngoại lệ.

Krenz sai lầm ở chỗ nào?

Một tuần trước khi Bức tường Berlin sụp đổ, ông Krenz bay tới Moscow họp gấp với nhà lãnh đạo Liên Xô, Mikhail Gorbachev.

“Gorbachev nói với tôi rằng nhân dân Liên Xô coi người Đông Đức như anh em,” ông nói.

“Và sau nhân dân Liên Xô thì ông ấy yêu nhân dân Đông Đức nhất. Cho nên khi đó tôi hỏi: ông vẫn coi bản thân mình là một người cha của Đông Đức chứ, thì ông ấy nói, ‘Tất nhiên, Egon.’ Rồi ông ấy nói, ‘Nếu như anh định nói tới khả năng thống nhất Đức, thì đó không phải là chuyện nằm trên nghị trình.'”

“Vào lúc đó, tôi đã nghĩ Gorbachev nói rất thành thực. Đó là sai lầm của tôi.”

Ông có cảm thấy là Liên Xô đã phản bội ông không? Tôi hỏi.

“Có.”

Nhìn lại chuyến đi đầu tiên tới Moscow trong vai trò lãnh đạo cộng sản, ông Egon Krenz (trái) tin rằng ông đã bị phản bội

Đông Đức đi đến hồi kết thế nào?

Vào ngày 9/11/1989, Bức tường Berlin sụp đổ. Những đám đông người Đông Đức ngây ngất tràn qua đường biên giới mở.

“Đó là đêm tồi tệ nhất đời tôi,” ông Krenz nhớ lại. “Tôi không muốn trải qua cảm giác đó thêm một lần nào. Khi các chính trị gia phương Tây nói rằng đó là sự ăn mừng của người dân thì tôi hiểu. Nhưng tôi chịu toàn bộ trách nhiệm. Tại thời điểm trào dâng cảm xúc đó, nếu như có bất kỳ ai bị giết chết trong đêm thì chúng tôi có lẽ sẽ bị hút vào cuộc xung đột quân sự giữa các cường quốc.”

Chỉ trong vòng một tháng sau khi Bức tường sụp đổ, Krenz từ chức khỏi vị trí lãnh đạo Đông Đức. Một năm sau, Đông và Tây Đức thống nhất. Cộng hòa Dân chủ Đức trở thành chuyện của lịch sử.

Không lâu sau đó, bản thân Liên Xô cũng tan rã. Nhưng khác với Egon Krenz, trên toàn Đông Âu, Mikhail Gorbachev được coi như người hùng, người đã cho phép xé toang Bức màn Sắt.

Bức tường Berlin chia cắt thành phố trong suốt gần 30 năm

Nói chuyện với tôi hồi 2013, cựu Tổng thống Liên Xô nói: “Tôi thường bị cáo buộc là đã đem cho đi Trung và Đông Âu. Nhưng tôi đem cho ai? Ví dụ như tôi đã đem Ba Lan trao lại cho người Ba Lan. Đất nước đó còn có thể thuộc về ai được nữa?”

Ông Krenz mất quyền lực, mất đi đất nước mình.

Tiếp đến, ông mất tự do.

Năm 1997, ông bị kết tội ngộ sát đối với những người Đông Đức bị bắn khi tìm cách chạy sang bên kia Bức tường Berlin. Ông phải ngồi tù bốn năm.

‘Chiến tranh Lạnh không bao giờ kết thúc’

Egon Krenz vẫn rất quan tâm đến chính trị. Và ông vẫn ủng hộ Moscow.

“Sau các tổng thống yếu mềm như Gorbachev và Yeltsin, Nga thật cực kỳ may mắn là có Putin.”

Ông cho rằng Chiến tranh Lạnh không bao giờ chấm dứt, mà thay vào đó là nó “đang được chiến đấu bằng những biện pháp khác”.

Ngày nay, Krenz sống một cuộc đời lặng lẽ ở vùng duyên hải Baltic của Đức.

“Tôi vẫn nhận được rất nhiều thư, điện thoại của cháu chắt các công dân Đông Đức. Họ nói với tôi rằng ông bà họ sẽ rất vui nếu tôi nói lời chúc mừng sinh nhật. Đôi khi có người gặp tôi, đề nghị tôi ký tặng hoặc chụp ảnh selfie cùng.”

Khi chúng tôi bước ra khỏi xe hơi ở trung tâm Berlin, một giáo viên dạy sử cùng nhóm học sinh lớp 10 tới chỗ chúng tôi. Quả là một ngày may mắn đối với họ.

“Thày trò chúng tôi đang có chuyến tham quan từ Hamburg tới để tìm hiểu về lịch sử Cộng hòa Dân chủ Đức,” thầy giáo dạy sử nói với ông Krenz. “Thật tuyệt vời là chúng tôi gặp được ông, một nhân chứng sống. Ông thấy thế nào khi Bức tường đổ xuống?”

“Đó không phải là một lễ hội tưng bừng,” ông Krenz nói. “Đó là một đêm vô cùng kịch tính.”

Bức tường Berlin

Bài viết của nhà báo Huy Đức kể về câu chuyện 20 năm ngày sụp đổ bức tường chia đôi nước Đức:

“Tuần trước, một người Đông Đức, bà Angela Merkel, vừa lên tiếng trên cương vị Thủ tướng nước Đức thống nhất cám ơn Hungary cách đây 20 năm, tháng 8-1989, đã mở cửa biên giới của mình, để cho hơn 60 nghìn người Đông Đức thoát ra, dẫn tới sự kiện bức tường Berlin sụp đổ.

Tháng 6-2004, Hoàng- một đồng đội cũ của tôi ở trường sĩ quan, cựu đại úy quân đội nhân dân Việt Nam, con trai một vị tư lệnh chiến trường nổi tiếng thời đánh Mỹ và đánh Pol Pot- lái xe chở tôi chạy từ Đông sang Tây và cuối cùng đến trước bức tường Berlin. Hoàng nằm trong số những người Việt Nam đầu tiên leo qua phía Tây, thay vì đủ kiên nhẫn để đập đổ cái mà Hoàng, cho đến ngày nay, vẫn coi là “bức tường ô nhục”.

Berlin cũng như nước Đức, sau Thế chiến thứ II, bị “xẻ làm tư” theo thỏa ước Potsdam. Cho dù Liên Xô phản đối, các nước Anh, Pháp, Mỹ sau đó vẫn trả lại quyền tự chủ cho người Đức trên phần lãnh thổ mà mình tiếp quản. “Kế hoạch Marshall” đã giúp Tây Đức phát triển rất nhanh dựa trên nền tảng tự do.

Năm 1948, Stalin ra lệnh phong tỏa, không cho vận chuyển lương thực thực phẩm từ Đông sang Tây. Nhưng vẫn không có người Tây Đức nào đi theo Stalin. Trong khi, trong suốt thập niên 50 đã có hơn 3,5 triệu người Đông Đức bỏ chạy sang Tây Đức. Ngày 1-8-1961, Tổng Bí thư Liên Xô, Krushchev, điện đàm với Ulbricht, Bí thư thứ nhất Đông Đức “đề nghị xây tường”. Ngày 12-8 năm đó, Ulbricht ký lệnh đóng cửa biên giới và “bức tường ô nhục” đã được người Đức cùng với “Hồng Quân Liên xô” nửa đêm “dựng lên lén lút”.

Bảo tàng Bức tường Berlin là một trong những bảo tàng vô cùng ấn tượng. Có thể tìm thấy ở đây những sự kiện bi thảm; nhưng, cũng có thể tìm thấy ở đây những câu chuyện hết sức li kỳ. Chỉ có với khát khao tự do con người mới có thể bất chấp sự hiểm nguy mà vượt thoát mãnh liệt đến vậy. Lượng người dân Đông Đức bị bắn chết khi trèo qua bức tường Berlin không dừng lại ở con số 1.374; mới đây, Bảo tàng vừa cho bổ sung vào danh sách này những người không phải là dân “vượt biên” mà là lính biên phòng Đông Đức. Hàng chục lính biên phòng Đông Đức đã tự sát thay vì chấp hành lệnh chính quyền bắn vào nhân dân, những người tìm kiếm tự do.

Chỉ cần đến Bảo tàng Bức tường Berlin là có thể hiểu vì sao cả Đông Âu, tràn ngập xe tăng Liên Xô, thế mà vẫn đổ; có thể hiểu vì sao Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu lấy ngày “23 tháng Tám là ngày tưởng niệm các nạn nhân của chủ nghĩa Stalin và Phát xít”. Ngày 23-8-1939, Stalin đã bắt tay với Hitler, ký Hiệp ước phân chia Châu Âu. Chỉ một tuần sau, ngày 1-9-1939, Hitler đánh chiếm một phần Ba Lan; ngày 17-9-1939, Liên Xô xâm lược phần còn lại. Người của Stalin, ngay sau đó đã giết hại hàng trăm nghìn người Ba Lan và đưa hơn một triệu người Ba Lan khác lưu đày viễn xứ.

Nếu như, chủ nghĩa Hitler chỉ kịp gây tội ác trong những năm tháng chiến tranh thì chủ nghĩa Stalin lại tiếp tục hủy hoại con người ngay cả khi không còn tiếng súng. Sự hy sinh của hơn 20 triệu người Liên Xô, sự anh dũng của các tướng lĩnh, của Hồng quân là vô cùng vĩ đại. Nhưng, sự hy sinh ấy của nhân dân đã bị những người như Stalin tước đoạt. Liên Xô, quốc gia đóng vài trò quyết định trong cuộc chiến chống Phát xít, thay vì được ghi nhớ như là “giải phóng quân” đã trở thành một lực lượng chiếm đóng và đã áp đặt lên Đông Âu một chế độ tước đoạt hết của con người những quyền căn bản.

Tại Đông Đức, sau 8 năm chiếm đóng, chính quyền do người Nga lập nên liên tục có những hoạt động thanh trừng nội bộ; khủng bố những người bất đồng; kiểm soát thanh niên; trong khi, thực phẩm thì khan hiếm và đắt đỏ. Sau khi Stalin chết, hơn 1 triệu người dân Đông Đức đã xuống đường biểu tình. Chính phủ Đông Đức rút chạy vào tổng hành dinh của Hồng quân Liên Xô. Chính họ đã cầu cứu và “ngoại bang” đã dùng xe tăng thẳng tay đàn áp cuộc chống đối đâu tiên của nhân dân ấy.

Tại Hungary, sau năm 1945, cuộc bầu cử dân chủ chỉ đem lại cho đảng cộng sản Hungary 17%. Nhưng ngay sau đó, “toàn quyền Liên xô”, tướng Kliment Voroshilov đã buộc một thành viên không đảng phái trao ghế Bộ trưởng Nội vụ cho László Rajk, người của đảng cộng sản Hungary. László Rajk đã lập ra cơ quan an ninh quốc gia sử dụng cách mà Hitler đã làm trong thập niên 30: vu cáo, bắt bớ, tra tấn… tiêu diệt dần đối lập. Ngày 23-10-1956, người Hungary đứng dậy hô to “không cam chịu làm nô lệ nữa”. Nhưng, ngày 4-11-1956, xe tăng Liên Xô nghiến nát cuộc chính biến sau khi máy bay ném bom xuống Thủ đô Budapest: 2.500 người Hung bị giết; 200 nghìn người khác phải trốn khỏi quê hương.

Sự ngột ngạt về chính trị và bế tắc về kinh tế trở thành tình trạng phổ biến ở Đông Âu. Năm 1967, sau khi trở thành Bí thư thứ Nhất Tiệp Khắc, Alexander Dubcek tiến hành cải cách. Dubcek cho phát triển kinh tế tự chủ hơn; các tù nhân chính trị được tha và báo chí bắt đầu có tiếng nói. Không chủ trương đa đảng, Dubcek chỉ có ý định xây dựng “chủ nghĩa xã hội nhân bản hơn”. Tuy nhiên, những nỗ lực của Dubcek càng mang lại sự thịnh vượng cho nhân dân thì lại càng gây lo lắng cho Liên Xô. Cho dù không có “nổi dậy”, đêm 20-8-1968, xe tăng Liên Xô vẫn tiến vào Praha theo sau bởi hơn 165 nghìn quân của khối Warsava.

Tại bảo tàng Bức tường Berlin, có một đoạn video gần như được liên tục phát, đó là trích đoạn phát biểu ngày 12-6-1987 của Tổng thống Mỹ Ronald Reagan: “Mr. Gorbachev, hãy phá bỏ bức tường này”. Thật khó để xác định ai là người đóng vai trò chính để kết thúc chiến tranh lạnh. Tuy nhiên, có thể bức tường Berlin đã không sụp đổ nếu như tháng 3-1989, Thủ tướng Hungary, Miklos Nemeth, khi có ý định “tháo gỡ hàng rào kẽm gai dọc theo biên giới” không nhận được tín hiệu từ ông Gorbachev: “Vấn đề an ninh biên giới là việc của ông Nemeth”.

Không có một dân tộc nào không nuôi khát vọng tự do ngay cả dưới họng súng của xe tăng và đại bác. Câu trả lời của ông Gorbachev đơn giản chỉ là trả cho người Hungary quyền tự quyết. Cái quyền mà người dân Đông Âu lẽ ra phải được hưởng kể từ 1945.

Cũng trong tháng 6-2004, tôi có đi qua một vài nghĩa trang quân Đồng Minh chết sau sự kiện Normandy. Những tấm bia ở đây nói rõ là nghĩa trang được lập bởi dân chúng địa phương góp đất và tiền để tưởng nhớ những người lính Anh, Mỹ, New Zeland, Australia… Những “nghĩa trang dân lập” ấy vẫn được gìn giữ cho đến ngày nay với hoa tươi quanh năm. Trong khi, năm 2007, Tổng thống Nga Putin bị các quốc gia lân bang đặt trước tình huống phải ký sắc lệnh lập 7 văn phòng đại diện tại Ba Lan, Hungary và các nước vùng Baltic để bảo vệ mộ của Hồng quân. Thật không phải khi đụng đến nơi tưởng niệm những người đã hy sinh. Nhưng, cái cách mà Putin cư xử với lân bang đã khiến họ nhớ lại thời Liên Xô và nhận thấy những tượng đài Hồng quân “không còn là một biểu tượng chống phát xít mà là biểu tượng của sự chiếm đóng”.

Bên cạnh những bao cát của Checkpoint Charlie, chốt gác giữa Đông và Tây Berlin, cũng luôn có hoa tươi. Có lẽ ngay chính người Mỹ, sau những chiến tranh Việt Nam, chiến tranh Iraq, cũng thèm khát hình ảnh của chính mình trên bờ biển Normandy hay ở cái Checkpoint Charlie ấy. Từng là một người lính ở Campuchia tôi hiểu, không có người lính nào sẵn sàng hy sinh nếu không nghĩ, sứ mệnh của mình là giải phóng. Nhưng, không chỉ những người đã nằm xuống, người lính thường kết thúc sứ mệnh sau khi buông súng, mà những việc có ảnh hưởng tới “các giá trị thiêng liêng” khi ấy mới thực sự bắt đầu. Một cuộc chiến không còn được coi là “giải phóng” nếu những gì mà nhân dân cuối cùng được hưởng không phải là độc lập tự do.”

BBC News

BÌNH LUẬN

avatar
2000